U lympho tế bào T ở da, Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

0 187

Tế bào bạch huyết phát triển thành tế bào B và tế bào T. CTCL, hoặc u lympho tế bào T ở da, là một thuật ngữ chỉ các u lympho hiếm gặp ảnh hưởng đến da. Có ba loại, với tổng số khoảng 3.000 trường hợp mới mỗi năm ở Hoa Kỳ.

U lympho tế bào T ở da (CTCL) là gì?

Lymphoma là dạng ung thư máu thường gặp nhất, xảy ra khi các tế bào lympho (một loại tế bào bạch cầu) nhân lên không kiểm soát được. Hai loại tế bào lympho chính phát triển thành u lympho là tế bào B và tế bào T.

CTCL là một thuật ngữ chung cho các u lympho tế bào T ảnh hưởng đến da. Có ba loại phụ chính:

  • Thuốc diệt nấm Mycosis: Loại CTCL thường gặp nhất (50% tổng số trường hợp), nó thường chỉ liên quan đến da và phát triển chậm trong nhiều năm.
  • Hội chứng Sézary: Loại CTCL phổ biến thứ hai (15% tổng số trường hợp). Tế bào bạch huyết được tìm thấy trong cả da  mạch máu.
  • Rối loạn tăng sinh bạch huyết dương tính với CD30: Loại này bao gồm một loạt các CTCL, một số có thể phát triển rất nhanh.

U lympho tế bào T ở da (CTCL) phổ biến như thế nào?

CTCL là một dạng ung thư tế bào T hiếm gặp. Có khoảng 3.000 trường hợp mới mắc CTCL ở Mỹ mỗi năm, và khoảng 16.000 – 20.000 người Mỹ có thuốc diệt nấm mycosis.

Làm thế nào để một người bị ung thư hạch tế bào T ở da (CTCL)?

Hiện tại không có nguyên nhân được xác định rõ ràng của CTCL. Nó không truyền nhiễm và không phải là một bệnh nhiễm trùng.

Ai bị ảnh hưởng bởi u lympho tế bào T ở da (CTCL)?

CTCL ảnh hưởng đến nam giới thường xuyên gấp đôi nữ giới. Nó ảnh hưởng đến những người lớn tuổi (thường trong độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi) thường xuyên hơn những người trẻ tuổi. CTCL ảnh hưởng đến những người có gốc gác là người Mỹ gốc Phi thường gấp hai lần so với những người có nguồn gốc châu Âu hoặc châu Á.

Các triệu chứng của u lympho tế bào T ở da (CTCL) là gì?

Các triệu chứng của CTCL có thể khác nhau rất nhiều, tùy thuộc vào loại bệnh và giai đoạn. Loại phổ biến nhất là thuốc diệt nấm bệnh mycosis , có các triệu chứng tiến triển chậm qua ba giai đoạn riêng biệt.

Giai đoạn đầu: Phát ban đỏ hoặc các mảng da khô, đỏ, có vảy thường ở mông và thân. Các mảng này có thể vẫn còn và không thay đổi, có thể tự biến mất hoặc từ từ lớn hơn. Trong giai đoạn này, da giống như bệnh vẩy nến và nó có thể vẫn như vậy trong nhiều tháng, nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ.

Giai đoạn hai: Nổi lên, xuất hiện các mụn (mảng) màu nâu đỏ, có vảy. Những mảng này có thể phát triển từ các mảng đã có từ trước hoặc ở những khu vực chưa bị ảnh hưởng trước đó. Theo thời gian, chúng có thể phát triển cùng nhau và tạo thành mảng lớn hơn. Bất kỳ phần nào của cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng.

Ngứa và đau dữ dội cũng có thể xuất hiện trong hai giai đoạn đầu, nhưng không phải tất cả mọi người đều gặp phải tình trạng này.

Giai đoạn ba: Phát triển các khối u hình nấm. Trong một số trường hợp, chúng có thể bị vỡ ra (loét) hoặc bị nhiễm trùng. Một số người phát triển khối u mà không bao giờ trải qua các triệu chứng của hai giai đoạn đầu tiên.

Trong khoảng 10 phần trăm các trường hợp nhiễm nấm do mycosis, các tế bào bạch huyết lây lan từ da vào các hạch bạch huyết và / hoặc các cơ quan nội tạng như gan, lá lách hoặc hệ tiêu hóa. Điều này có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Hội chứng Sézary là một dạng CTCL hiếm gặp. Nó được đánh dấu bằng sự hiện diện của các tế bào lympho ung thư trong máu và các hạch bạch huyết mở rộng. Có thể bị ngứa dữ dội, da dày lên, đóng vảy và bong tróc. Các triệu chứng khác bao gồm mí mắt quay ra ngoài, móng tay dị dạng, mảng hói trên đầu, sốt và mệt mỏi chung.

Chẩn đoán u lympho tế bào T trên da (CTCL) như thế nào?

  • Xem lại bệnh sử
  • Khám sức khỏe đặc biệt chú ý đến số lượng và loại tổn thương da
  • Các xét nghiệm máu bao gồm công thức máu đầy đủ với phân biệt, phết máu ngoại vi và đo tế bào lưu lượng máu
  • Lấy mẫu hoặc sinh thiết da
  • Các xét nghiệm hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron (PET)
  • Sinh thiết tủy xương hoặc hạch bạch huyết

Ung thư hạch tế bào T trên da (CTCL) được điều trị như thế nào?

Một khi chẩn đoán CTCL đã được thực hiện, điều quan trọng là phải tìm ra liệu ung thư có di căn từ da sang bất kỳ bộ phận nào khác của cơ thể hay không. Quá trình này được gọi là giai đoạn, và sẽ xác định sự lựa chọn điều trị thích hợp và triển vọng lâu dài. Có năm loại phương pháp điều trị tiêu chuẩn:

  • Liệu pháp quang động : Một loại thuốc được kích hoạt bằng ánh sáng laser được tiêm vào tĩnh mạch. Thuốc tích tụ trong các tế bào ung thư. Khi ánh sáng laser được chiếu vào da, thuốc sẽ tiêu diệt các tế bào ung thư.
  • Quang di ngoài cơ thể: Một phương pháp điều trị khác liên quan đến ánh sáng. Máu của bệnh nhân được rút ra. Các tế bào bạch cầu được loại bỏ và trộn với một loại thuốc làm cho tế bào T ung thư nhạy cảm với tia cực tím (UV). Khi tiếp xúc với tia UV, các tế bào này sẽ chết. Các tế bào bạch cầu được xử lý sau đó được trả lại cho bệnh nhân.
  • Xạ trị: Tia X hoặc các nguồn bức xạ khác chiếu thẳng vào tế bào ung thư có thể giết chết chúng hoặc làm chậm sự phát triển của chúng. Các nguồn bức xạ bên ngoài bao gồm một máy trị liệu bức xạ, có thể hướng các electron (các hạt hạ nguyên tử mang điện tích âm) hoặc các photon đến các vùng da bị bệnh.
  • Hóa trị: Hóa trị có thể được thực hiện bằng đường uống, tiêm hoặc dưới dạng gel, kem hoặc thuốc nước thoa trực tiếp lên da. Ví dụ về các loại thuốc hóa trị bao gồm methotrexate và gemcitabine .
  • Điều trị bằng thuốc khác:
    • Corticosteroid được bôi trực tiếp lên da để điều trị da đỏ, sưng và viêm.
    • Retinoids như bexarotene là các loại thuốc liên quan đến vitamin A có thể làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư.
    • Các chất ức chế histone deacetylase như vorinostat và romidepsin ngăn các tế bào khối u phân chia.
    • Lenalidomide giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể để giúp tiêu diệt các tế bào bị bệnh và ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu mới trong các khối u.
  • Liệu pháp sinh học: Các chất được tạo ra bởi cơ thể hoặc trong phòng thí nghiệm làm tăng thêm khả năng chống lại bệnh tật của hệ thống miễn dịch của bệnh nhân. Ví dụ, interferon cản trở sự phân chia tế bào ung thư và có thể làm chậm sự phát triển của khối u.

Các biến chứng / tác dụng phụ của phương pháp điều trị ung thư hạch tế bào T ở da (CTCL) là gì?

Phương pháp điều trị ung thư có thể gây ra tác dụng phụ vì các mô hoặc cơ quan khỏe mạnh bị ảnh hưởng cùng với ung thư. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm nhưng không giới hạn ở:

  • Thiếu máu
  • Ăn mất ngon
  • Chảy máu và bầm tím
  • Mệt mỏi
  • Rụng tóc
  • Nhiễm trùng
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Các vấn đề với chức năng tình dục và khả năng sinh sản

Triển vọng cho bệnh nhân u lympho tế bào T ở da (CTCL) là gì?

Không có cách chữa khỏi CTCL nhưng nhiều bệnh nhân có thể kiểm soát bệnh và không có triệu chứng trong nhiều năm. Hầu hết bệnh nhân được điều trị bằng thuốc diệt nấm bệnh nấm ở giai đoạn đầu có tuổi thọ bình thường.

Các yếu tố sau đây xác định mức độ một bệnh nhân có thể kiểm soát bệnh:

  • Giai đoạn ung thư
  • Loại và số lượng các bất thường về da
  • Tuổi, giới tính và sức khỏe chung của bệnh nhân

Khi nào bác sĩ về bệnh u lympho tế bào T ở da (CTCL)?

Bệnh nhân đang điều trị CTCL nên tái khám định kỳ với bác sĩ nắm rõ bệnh sử và liệu trình điều trị. Có thể cần xét nghiệm định kỳ để xác định xem có cần điều trị bổ sung hay không và kiểm tra tác dụng phụ. Các triệu chứng CTCL được kiểm soát càng lâu, thì số lần gặp bác sĩ càng ít cần thiết.